Home / Văn THPT / Văn lớp 11 / Bình giảng bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính- Văn 11

Bình giảng bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính- Văn 11

Loading...

Đề bài: Em hãy bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính 

Tình yêu thật khó định nghĩa, không ai có thể định nghĩa được tường tận về tình yêu. Và trong tình yêu có rất nhiều những cung bậc và trạng thái khác nhau. Có thể thấy được rằng trong khi yêu ai ai chẳng có sự nhớ thương lưu luyến, cảm giác nhớ mong đêm ngày được gọi tên đó chính là tương tư. Nhà thơ Nguyễn Bính đã có” thơ thật hay khi nói về cảm xúc, trạng thái này đó chính là thi phẩm “Tương tư

Và ta như thấy được chính khổ thơ đầu nói lên nỗi “nhớ”, nỗi “mong” của kẻ đang yêu, nỗi nhớ mong đầy ắp trong lòng, đã thành “bệnh” bởi lẽ “tôi yêu nàng”:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người.

“Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.

Thật đặc sắc biết bao nhiêu khi chữ “tôi” xuất hiện trong bài thơ thật đáng yêu. Thôn Đoài với thôn Đông đó dường như cũng chính là nơi nhà “Nàng” và nhà Tôi” đang ở. Có lẽ rằng chính cách sử dụng hoán dụ – nhân hóa kết hợp với thành ngữ và nghệ thuật phân hợp số từ – vị ngữ đó như là câu “chín nhớ mười mong” làm cho lời thơ trở nên hình dị mà hồn nhiên, đằm thắm. Qủa thực trong tình yêu thì khi xa cách thì nỗi “chín nhớ mười mong một người” không chỉ đầy ắp, da diết trong lòng chàng trai đa tình yêu tha thiết này mà còn tràn ngập cả xóm thôn, cả thôn Đông lẫn thôn Đoài. Và chàng trai đã yêu nàng tôi tương tư đã thành “bệnh”, thật đáng thương,… thật độc đáo khi căn bệnh này cũng như bệnh nắng mưa của trời vậy. Ta dường như thấy được chính cách so sánh “bệnh giời” với bệnh “tương tư “của tôi yêu nàng”, nhà thơ Nguyễn Bính thạt tài tình khi đã diễn tả một cách hồn nhiên, cũng như thật là thi vị về nỗi buồn tương tư trong tình yêu là lẽ tự nhiên, là tất yếu. Và ta như thấy được yêu thì mong được gần nhau, mà xa nhau thì nhớ; yêu lắm nên nhớ nhiều, và có thể nói ta như càng nhớ mong thì càng tương tư. Tương tư được biết đến đó chính là một nét đẹp của tình yêu nên khác gì “Nắng mưa là bệnh của giời”…

phan tich bai tuong tu cua nguyen binh

Không dừng lại ở đó ta như thấy được mười hai câu tiếp theo nói lên tâm trạng tương tư “bệnh của tôi yêu nàng”. Đầu tiên đó cũng chính là những nỗi băn khoăn thắc mắc. Tuy nhiên nó như chẳng được ở gần nhau “bên giậu mùng tơi”, “bên giàn thiên lí”, nhưng dường như khi mà tôi với nàng gần gũi biết bao “Hai thôn chung lại một làng”. Tình yêu đó chính là có mong có nhớ… có đi mà không có lại, nên băn khoăn thắc mắc biết ngỏ cùng ai bây giờ? Ta dường như thấy được đó chính là một câu hỏi cất lên nghe thật là thương, thật là buồn:

“Cớ sao bên ấy chảng sang bên này?”.

Dường như cũng đã bao lâu rồi chưa được gặp nàng, nỗi buồn tương tư càng da diết, nôn nao:

“Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”.

Ta như thấy được chính ba chữ “ngày” kết hợp với chữ , “qua” một chữ “lại” diễn tả nỗi buồn triền miên dằng dặc. Và cũng chính từ mùa xuân, khi lá xanh nay đã cuối thu “cây lá vàng”, thế mà “bên ấy” chẳng sang bên này cơ chứ? Và phải làm sao chẳng mỏi mòn mong nhớ? Làm sao có thể chẳng tàn úa như lá vàng mùa thu? Nguyễn Bính thật tài tình khi ông cũng đã học tập cách nói của dân gian lấy cây cỏ sắc màu để diễn tả thời gian li cách. Và chính thời gian tâm lí, thời gian tâm trạng: dằng dặc mong nhớ, triền miên buồn trông – được nói lên một cách rất thơ, rất đậm đà, ý vị biết bao nhiêu.

phan tich bai tuong tu cua nguyen binh

Tình yêu là vậy cứ thắc mắc rồi trách móc, rồi hờn tủi. Băn khoăn tự hỏi, tự giày vò mình đó chính là những câu theo mô-tip “Bao rằng”, “không… là chăng… đã đành”, “nhưng”, “có xa xôi mấy…”, và ta như thấy được hỏi để rồi lại băn khoăn, hờn dỗi. Và dường như điều đó chỉ biết hỏi mình mà thôi, càng hỏi càng cô đơn lẻ loi, hờn tủi:

” Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”.

“Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?”.

Ta như thấy được để có thể mà trải qua những “chín nhớ mười mong”, hết trách móc hờn đỗi rồi lại trông đợi cầu mong. Thật chân tình, thật chân thành, tha thiết:

“Bao giờ bến mới gặp đò,

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”.

Tác giả dường như cũng đã vận dụng lốì nói ước lệ ẩn dụ trong ca dao (bến, đò) trong thơ văn truyền thống đó chính là “hoa khuê các, bướm giang hồ”. Như cũng đã để thể hiện một nỗi ước mong, một khao khát về tình yêu hạnh phúc của lứa đôi rất thiết tha. Có thể thấy được rằng chính cái tôi trữ tình của chàng trai đa tình, nỗi buồn tương tư, nỗi khát khao ước mong về hạnh phúc “của tôi yêu nàng “, trở thành “cái chung” của nhiều chàng trai, cô gái khác. Và bài thơ như đã nói được nỗi lòng của chàng trai và những người đang yêu, đang mắc cắn bệnh “tương tư”.

Và khi đến với phần hai bài thơ, chàng trai dường như lúc thì trách móc, lúc thì nhắn hỏi liên tiếp mà “nàng” vẫn hững hờ, biệt tăm. Ta như cảm thấy được kẻ thì đa tình mơ mộng… mà đay buồn đó chính là đối tượng lại mơ hồ, vô định, nhớ thương mong đợi, có đi mà chẳng bao giờ có lại. Qủa thật đây cũng chỉ là chuyện hão huyền, vô vọng vì đó đều mơ hồ, vu vơ. Ta dường như thấy được ở đời vẫn có những mối tình yêu như thế, lãng mạn như thế

“Nhớ mình ra ngẩn vào ngơ

Trông mây  trông nước, nay chờ mai mong”.

Qua đó, ta giới có thể cảm nhận được tình tương tư “một người chín nhớ mười mong một người” trong thơ Nguyễn Bính. Và đó chỉ là yêu vụng dấu thầm mà thôi.

Bốn câu thơ cuối bài nói lên niềm mơ ước muôn đời của lứa đôi. Và ở đây là của “anh”. Yêu nhau đâu chỉ có “chín nhớ mười mong”, đâu chỉ có tương tư mà còn ước mơ hạnh phúc:

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phong.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thân Đoài nhớ giầu không thôn nào”.

Hình ảnh “Có một giàn giầu”, “có một hàng cau liên phòng”, nhà anh, nhà em mới đều chỉ có “một” nghĩa là còn lẻ loi, đơn chiếc. Và hơn hết đó chính là Anh và em vẫn đôi nơi đó là Anh ở thôn Đoài, em vẫn ở thôn Đông, vẫn còn xa cách quá chừng, vẫn là một trời mong nhớ, nhớ thương biết bao nhiêu đó chính là “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Anh nhớ em, tưởng như: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.

Người đọc cũng có thể ngầm hiểu hình ảnh ẩn dụ “giầu – cau” dường như cũng đã lộ niềm mơ ước: duyên trầu cau cũng là duyên đôi lứa sắt son, bền chặt. Chính với cấu trúc song hành gợi tả mối quan hệ gắn bó của đôi trai gái trong một tình yêu đẹp biết bao nhiêu.

Thi phẩm “Tương tư” vượt lên thời gian, đã sống trong lòng người, trong trái tim, tâm hồn bao chàng trai, cô gái. Ta như thấy được ngôn ngữ và chất thơ dung dị, hồn nhiên, dân dã và không kém phần lãng mạn thơ mộng. Đó chính là một hệ thống ẩn dụ – ước lệ đó chính là thôn Đoài, thôn Đông, bến – đò, hoa – bướm, cau – trầu… -. Ta dường như có thể thấy được với cách nói ví von bình dị đã tạo nên một không gian nghệ thuật gần gũi, thân quen là làng xóm, quê nhà, là “hồn xưa đất nước“. Có lẽ rằng chính cái mới trong thơ lục bát của Nguyễn Bính là chất biểu cảm nồng nàn, như đồng thời cũng chính là niềm khao khát về tình yêu hạnh phúc, là cái tôi trữ tình, là “của tôi yêu nàng”, đồng thời cũng nói lên được cảm xúc của tuổi trẻ bấy lâu nay.

Tương tư” dường như có cảm giác mong nhớ và buồn, có trách móc và giận hờn, nhưng chủ yếu là vươn tới, là mơ ước, đó như chính là những khát khao để anh và em, để cau thôn Đoài và giầu không thôn Đông thắm lại, như thêm được cả sự son sắt, thủy chung. Tất nhiên là mọi mơ ước đều đẹp. Đặc biệt là khi con người đã mơ ước về tình duyên hạnh phúc lại càng đẹp. “Tương tư” thể hiện hồn thơ Nguyễn Bính đó chính là sự lãng mạn mà chân quê, man mác hương đồng gió nội một thời quá vãng.

Loading...
Content Protection by DMCA.com

Check Also

gioi thieu hoa hong

Giới thiệu về hoa hồng- Văn 8

Loading... Đề bài: Em hãy Giới thiệu về hoa hồng Hoa hồng xuất hiện trên …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *