Home / Văn THPT / Văn lớp 12 / Bình giảng đoạn thơ đầu trong bài thơ “Tiếng hát đi đày” của Tố Hữu

Bình giảng đoạn thơ đầu trong bài thơ “Tiếng hát đi đày” của Tố Hữu

Loading...

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ đầu trong bài thơ “Tiếng hát đi đày” của Tố Hữu

Bài làm

Tố Hữu (1920 – 2002) là một nhà thơ và đồng thời là một chiến sĩ cách mạng. Thơ Tố Hữu vì vậy thường gắn liền với cuộc đời cách mạng của mình. “Tiếng hát đi đày” là bài thơ ghi lại chặng đường nhà thơ bị áp giải chuyển lao từ nhà lao Quy Nhơn đến nhà lao Đắc Lắc. Tuy trong hoàn cảnh tù đày nhưng tâm thế nhà thơ lại luôn lạc quan và hào sảng. Điều này được thể hiện rõ nhất trong đoạn thơ đầu tiên của bài thơ.

Khổ thơ đầu của bài thơ “Tiếng hát đi đày” mở ra một khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp và tâm trạng người chiến sĩ trên đường giải lao nhiều cảm xúc đan xen:

Đường lên xứ lạ Kong Tum

Quanh quanh đèo chật, trùng trùng núi cao

Thông reo bờ suối rì rào

Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?

Với bốn câu thơ này, người đọc có thể hình dung ra một khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và hoang sơ. Hai từ láy “quanh quanh” và “trùng trùng” đã nói lên điều này. Con đèo quanh co và chật hẹp, núi cao trùng điệp cứ nối tiếp nhau vừa gợi lên vẻ đẹp hùng vĩ song cũng không kém phần hiểm trở.

Mặc dù trong cảnh giam hãm tù đày nhưng tâm thế người chiến sĩ cách mạng vẫn rất lạc quan. Trên đường áp giải đến nhà lao Dayka mà người chiến sĩ có vẻ như háo hức: “Đường lên xứ lạ Kong Tum”. Từ “xứ lạ” vừa gợi lên cái vẻ héo hút của thiên nhiên nơi đây, vừa gợi lên sự ngạc nhiên và hào hứng của nhà thơ khi lần đầu được đặt chân đến và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó.

phan-tich-doan-tho-dau-bai-tieng-hat-di-day
Bình giảng đoạn thơ đầu trong bài Tiếng hát đi đày của Tố Hữu – Văn 12

Đến hai câu thơ sau thì người đọc lại thấy một khung cảnh tươi vui, đối lập hoàn toàn với cảnh thiên nhiên khắc nghiệt ở trên:

Thông reo bờ suối rì rào

Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?

Giữa thiên nhiên núi rừng Kong Tum, tiếng thông reo bên bờ suối, tiếng chim kêu chiu chít đã gợi lên một khung cảnh thật hiền hòa, bình yên. Hình ảnh và âm điệu trong hai câu thơ rất đặc sắc, giàu sức gợi hình và gợi cảm. Hình ảnh “thông reo bờ suối” đã gợi lên âm thanh êm ái nhẹ nhàng, trong tiếng reo đó mang cả vẻ đẹp của thiên nhiên thuần khiết hoang sơ. Câu thơ có tất cả sáu chữ mà có đến ba chữ có phụ âm rung (âm “r”) mà lại toàn là thanh bằng (“reo rì rào”) nên khi đọc lên nghe như có tiếng gió, tiếng lá cây hòa quyện thành một bản nhạc du dương. Từ tượng thanh “rì rào” được đặt ở cuối câu thơ lại càng làm cho tiếng thông reo như trầm lắng và ngân xa hơn.

Tiếng chim kêu chiều nghe “chiu chít” thật là vui tai. Nếu câu trên có ba phụ âm “r” để diễn tả âm thanh lay động của gió thì câu dưới này có đến bốn phụ âm “ch” được dùng để diễn tả âm thanh sôi động của những tiếng chim. Nhưng có thực sự là sôi động hay không thì lại cần phải xem xét. Bởi lẽ, đây là tiếng chim kêu chiều. Không chỉ có một, hai con gọi nhau mà có lẽ là rất nhiều con chim hối hả gọi nhau về tổ khi chiều đang buông xuống cho nên mới tạo nên những tiếng kêu có phần hốt hoảng, hoảng loạn đến như vậy. Cùng với tiếng thông reo trong gió, tiếng chim kêu chiều chíu chít đem đến cho con người một khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, sống động.

Có lẽ âm thanh của tiếng thông reo và tiếng chim kêu đã phần nào xua bớ đi sự u am, hiu quạnh của thiên nhiên cũng như đánh thức tâm hồn sâu thẳm của nhà thơ. Từ những âm thanh thiên nhiên ấy mà nhà thơ đã gửi gắm nỗi lòng của mình vào trong đó. Những âm thanh của thiên nhiên dường như sôi động tươi vui nhưng kì thực lại đều phảng phất nỗi buồn, nhất là tiếng chim chiều gọi nhau về tổ. Tiếng lòng của con người cũng như chung một nỗi vì rõ ràng ở đây, người chiến sĩ đang trong cảnh tù đày cô đơn, hoang vắng giữa “xứ lạ Kông Tum”. Ta cũng đã bắt gặp mô típ người gặp cảnh và tìm thấy nỗi lòng mình trong cảnh vật trong bài thơ “Chiều tối” của Bác: Người đã nhận ra tâm thế của mình trong hình ảnh cánh chim mỏi bay về rừng vào một buổi chiều muộn nơi đất khách trong thân phận người tù xa xứ. Ở trong bài thơ “Tiếng hát đi đày” cũng như vậy. Trong sự giao hòa với thiên nhiên, thấy được cái buồn của thiên và nỗi lòng mình, nhà thơ đã thốt lên một câu hỏi: “ai nào kêu ai?”. Bởi lẽ, cây thông, con chim và con người đều buồn, đều đáng thương cả. Câu hỏi ấy chứa đầy sự cảm thông và thương yêu đó, qua đó không chỉ cho thấy nỗi lòng đau buồn của người chiến sĩ trong cảnh tù đày mà còn hiểu được tấm lòng của một con người biết yêu thương và cảm thông với mọi vật. Chính điều này làm cho “tiếng hát đi đày” không hề bi lụy mà nhờ đó nó sẽ nâng con người lên khỏi cùng cực cuộc sống hiện tại để hướng tới tương lai với những điều tốt đẹp đang chờ. Và đúng như vậy, điều này đã được chứng minh ở phần cuối bài thơ.

Có lẽ âm vang và giai điệu của bốn câu thơ đầu trong bài thơ “Tiếng hát đi đày” đã để lại những dư âm mạnh mẽ trong lòng người đọc. Khổ thơ phần nhiều miêu tả cảnh vật thiên nhiên Kông Tum hùng vĩ, hoang sơ nhưng đồng thời hòa quyện trong đó là những cảm xúc đan xen của người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày. Với tinh thần lạc quan, khí khái, người chiến sĩ ấy vẫn luôn ngẩng cao đầu và hướng tới ngày mai tốt đẹp hơn.

Loading...
Content Protection by DMCA.com

Check Also

Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà nu”

Loading... Đề bài: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *