Home / Văn THPT / Văn lớp 12 / Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân – văn lớp 12

Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân – văn lớp 12

Loading...

Đề bài: Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Văn lớp 12).

Bài làm

Kim Lân là cây bút truyện ngắn chuyên nghiệp, những tác phẩm của ông xoay quanh đề tài về người nông dân, nông thôn với lời văn hóm hỉnh, sâu sắc, trung hậu. “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông được viết vào năm 1954. Tác phẩm thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

Giá trị nhân đạo là một trong các giá trị cơ bản của tác phẩm văn học được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn với những nỗi đau của những con người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Đồng thời, nhà văn còn thể hiện sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp tâm hồn và niềm tin vào khả năng vươn dậy của con người dù trong hoàn cảnh nào.

Vợ nhặt kể về nhân vật Tràng – thanh niên nghèo, xấu, dở hơi làm nghề kéo xe bò thuê, gia cảnh mẹ góa con côi ở xóm ngụ cư. Trong nạn đói năm 1945, khi kéo xe lên dốc Tràng hò câu cho đỡ mệt thì làm quen được với thị. Lần thứ 2 gặp lại, Tràng mời thị 4 bát bánh đúc cùng một câu nói đùa đã dẫn được thị về làm vợ trong sự ngạc nhiên của bà con ngụ cư cùng bà cụ Tứ. Sáng hôm sau, trong bữa cơm ngày đói nghe tiếng trông thúc thuế thị kể cho Tràng và bà cụ Tứ nghe câu chuyện cách mạng người dân đã phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Trong óc Tràng hình dung ra cảnh đám người đói đi trên đê Sộp đằng trước có lá cờ đỏ bay phất phới.

tinh-nhan-dao-trong-vo-nhat-kim-lan
Tính nhân đạo trong truyện “Vợ nhặt”

Giá trị nhân đạo trước hết thể hiện ở việc tác giả tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Trước khung cảnh tiêu điều, xơ xác “Cái đói đã tràn đến cái xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu, lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp các lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp 3, 4 cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.” Cái cảnh đói nghèo hoang tàn mà bọn thực dân đã để lại, chính khung cảnh người dắt díu nhau chạy đói rồi chết như ngả rạ khiến người đọc cảm thấy xót xa. Cái chết cận kề, cơm không có ăn, gạo không có gặt, cảnh hoang tàn, xơ xác lại bốc lên mùi ẩm thấp và mùi hôi thối của xác người. Đám trẻ trong làng cũng không buồn ra đón Tràng nữa, chúng nó ngồi ủ rũ bên những xó đường không buồn nhúc nhích. Toàn bộ không gian xóm ngụ cư bao trùm lên âm thanh của tiếng quạ, khóc, tiếng trông thúc thuế… cả xóm ngụ cư trở thành nghĩa địa tăm tối, ngột ngạt… Qua nạn đói, Kim Lân đã lên án, tố cáo thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ phong kiến đã gây nên nạn đói thảm khốc cho dân tộc ta, thể hiện niềm cảm thông, xót thương với nỗi khổ đau của người dân ngụ cư. Bên cạnh đó, trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn những người nông dân dù phải sống trong cảnh khốn khổ thì họ vẫn khao khát được sống, được hạnh phúc và giữ trọn đạo lý tình người.

Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn thể hiện ở chỗ, trong đói khổ, con người ta biết nương tựa vào nhau mà sống. Chi tiết thị theo Tràng về làm vợ và hình ảnh bà cụ Tứ – mẹ của Tràng đã thấu hiểu cho con, cả 3 người nương tựa sống dựa dẫm vào nhau. Đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất trong tác phẩm “Vợ nhặt”, chi tiết này đã tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn của người dân Việt Nam. Dù đói khổ, dù nghèo nàn, dù túng quẫn nhưng người ta sẵn sàng chìa tay ra để giúp đỡ người khác, giúp đỡ mảnh đời còn bất hạnh hơn cả mình. Thị – một người phụ nữ với con số 0 tròn trĩnh: không tên, không tuổi, không nghề nghiệp, không gia đình, người thân lại không có nhan sắc đã thế tính cách thị lại chao chat, chỏng lỏn, cong cớn và sung sỉa. Lần thứ nhất, thị chủ động làm quen với Tràng, lần thứ hai, thị chủ động đòi ăn, thị ăn một mạch 4 bát bánh đúc rồi sau đó theo Tràng về làm vợ. Đến nhân vật Tràng, chỉ với một câu hò chơi cho đỡ mệt khi kéo xe bò lên dốc đã làm quen được với thị, Tràng tặc lưỡi dẫn thị về làm vợ, Tràng cũng đã nghĩ tới cảnh của mình nhưng liều lĩnh rồi cũng trở nên là một người đàn ông có trách nhiệm trong suy nghĩ. Bà cụ Tứ thì ngạc nhiên, nhưng bà cũng hiểu và thông cảm cho con trai mình, con dâu mình. Bà vui mừng, phấn khởi nhưng cũng đầy tủi thân rồi bà thương các con, bà lo lắng rồi bà hy vọng… Bà săn sắn thu dọn, quét tước nhà cửa với niềm tin không gian thay đổi thì cuộc đời con người cũng có nhiều thay đổi.

Khát vọng vươn tới hạnh phúc của con người. Trong cái nghèo khổ, với hình hài không đẹp “Hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm và bóng chiều, hai bên quai hàm bạch ra, rung rung làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn, cái thân hình to lớn, vập vạp như lưng gấu, cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước”. Tính cách của Tràng là một con người dở hơi làm nghề kéo xe bò thuê, ăn nói cộc cằn, sống trong cảnh mẹ góa, con côi ở xóm ngụ cư. Tràng vừa nghèo, lại sống trong cảnh mẹ góa không có tiền để cưới vợ, chỉ một câu nói đùa và sính lễ là 4 bát bánh đúc Tràng đã dẫn thị về làm vợ trong sự ngạc nhiên của làng xóm và của bà cụ Tứ. Đó chính là khát vọng vươn tới hạnh phúc của con người trong xã hội.

Bà cụ Tứ thì luôn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình “chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi…còn mình thì”, trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt. Bà luôn cố tạo niềm vui cho gia đình giữa cảnh sống thê thảm. Người mẹ ấy sống vì con và tìm thấy ý nghĩa của đời mình trong sự chăm lo vun vén cho con.

Nổi bật nhất trong giá trị nhân đạo của tác phẩm đó là niềm tin tưởng sâu sắc vào con người lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo của tác phẩm có nét mới mẻ hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng.

Tác phẩm mang giá trị hiện thực, nhân đạo sâu sắc. Trong niềm cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của những người lao động dù trong bất cứ hoàn cảnh nào họ vẫn khao khát được sống hạnh phúc và giữ trọn đạo lý làm người. Qua cách xây dựng tình huống truyện nhà văn còn thể hiện thái độ phê phán những thế lực đã gây ra nạn đói thảm khốc cho dân tộc ta dẫu chỉ là một lời văn ngắn gọn cất lên từ lời bà cụ Tứ: “Đằng nó bắt nhổ lúa, đằng nó bắt giồng đay, đằng nó bắt đóng thuế giời đất này chưa chắc đã sống nổi qua ngày đâu các con ạ”

Tóm lại, với tài bút sắc của mình Kim Lân đã tái hiện cuộc sống nghèo khổ của những người nông dân trong cách mạng nhưng dù đau khổ, khó khăn, bần cùng thì họ vẫn vươn tới hạnh phúc, vẫn giành giật hạnh phúc để được cuộc sống bình yên hơn.

Loading...
Content Protection by DMCA.com

Check Also

mieu-ta-cu-gia-cau-ca

Tả cụ già đang câu cá – văn lớp 6

Loading... Đề bài: Tả cụ già đang câu cá (Văn lớp 6). Bài làm Vào …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *