Home / Văn THPT / Văn lớp 10 / Phân tích bài thơ “Nỗi oán của người phòng khuê” (Khuê oán) của Vương Xuân Linh – văn lớp 10

Phân tích bài thơ “Nỗi oán của người phòng khuê” (Khuê oán) của Vương Xuân Linh – văn lớp 10

Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ “Nỗi oán của người phòng khuê” (Khuê oán) của Vương Xuân Linh (Văn lớp 10)

Bài làm

Vương Xương Linh là một trong những nhà thơ Đường kiệt xuất. Ông để lại hiện còn 186 bài, phần lớn là thơ thất ngôn tuyệt cú. Nổi bật lên đó là bài “Khuê oán”, có nguời đã từng nhận định “Khuê oán là một bài thơ hay viết về đề tài chiến tranh, về công danh, tình yêu và tuổi trẻ, những vấn đề luôn day dứt trong tâm hồn con người mọi thời đại. Bài thơ đã để hiện quá trình tâm lí, bộ lộ “tiềm thức” của người khuê phụ, bài thơ 28 chữ này rất tinh tế, đầy gợi cảm và đầy tính thuyết phục. Bài thơ là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tiếng nói phản đối chiến tranh.

Với chủ đề chống chiến tranh nhưng với tố chất của một thi sĩ đời Đường, Vương Linh Xương có một cách thể hiện riêng, rất Đường thi, sang trọng, nhẹ nhàng, tinh tế và rất sâu sắc. Tác giả không đi sâu vào khai thác những biển hiện của nỗi oán mà chú ý đến sự chuyển biến tư tưởng.

Bài thơ có bốn câu, chia làm hai phần. Đúng luật Đường thi, câu thứ ba là câu bản lề của sự chuyển đổi tâm trạng và hé mở nội dung tư tưởng của bài thơ.

Khue_oan_Vuong_Xuong_Linh
Phân tích bài thơ Nỗi oán của người phòng khuê (khuê oán) của Vương Xuân Linh

Hai câu thơ đầu đã giới thiệu nhân vật trữ tình trong bài thơ là thiếu phụ thuộc tầng lớp quý tộc phong kiến, có chồng đang tham gia chinh chiến nơi ải xa. Có lẽ do sinh ra và lướn lên giữa cảnh xa hoa, nhung lụa nên cô chưa biết thế nào là cảnh mũi tên, đạn mạc và những nỗi đau thương tang tóc của chiến tranh. Cũng vì thế mà tâm trạng cô vô tư, hồn nhiên như trẻ nhỏ. Ngày ngày cô trang điểm thật đẹp đẽ, tươi xinh lên lầu cao ngóng phương xa, mong người chồng trở về thỏa mộng công danh:

“Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu”

(Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu,

Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu.)

Con người và cảnh vật đều thật tươi mới và tràn đầy sức sống. Thiếu phụ vô tư, không vương nỗi sầu, không cô đơn não nề như người chinh phụ  trong “chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn. Ở đây có sự hài hòa, tương đồng giữa người và cảnh. Ấy thế nhưng điều éo le, trớ trêu cũng lại nằm ngay trong sự hoa hợp, tương đồng ấy bởi mùa xuân tượng trưng cho tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà khuê phụ thì lại đang sống trong cảnh phòng khuê chiếc bóng. Cho nên, tâm trạng của nàng cũng không khác với những người vợ trẻ có chồng ra trân. Thái độ vui vẻ, hồn nhiên nếu là thật thì cũng rất mong manh. Chỉ cần một yếu tố nào đó của ngoại cảnh tác động vào là nó sẽ tan nhanh như màn sương dưới nắng mặt trời. Có rất nhiều bài thơ nói về cảnh sống thiếu phu quân của mình nhưng đều là cảnh buồn và tâm trạng của con người đều muốn giấu nhưng riêng đối với bài thơ này, tác giả thật đặc sắc khi đặt nhân vật vào cảnh như thế này. Nhưng hai câu thơ tiếp theo tâm trạng của nhân vật  trữ tình lại thay đổi dần.

Hai câu thơ sau nói đến yếu tố là thay đổi đột ngột tâm trạng của khuê phụ:

“Đầu đường chợt thấy màu dương liễu,

Hối để chàng đi kiếm tước hầu.”

Màu dương liễu xanh mơn mởn mà khuê phụ chợt thấy lúc vừa bước lên lầu cao đã làm cho dòng cảm xúc của người thiếu phụ nhanh chóng đổi chiều. Màu xanh liễu tượng trưng cho mùa xuân, tuổi trẻ và gợi lên khát vọng hạn phúc. Màu xanh ấy đã khơi dậy nỗi buồn li biệt trong lòng nàng. Buổi chia tay, theo phong tục nàng tặng chàng một nhành liễu để biểu thị tình cảm lưu luyến và ước mong ngày chàng sớm trở về đoàn tụ. Trong lòng người khuê phụ như bồi hồi, xao xuyến, giờ chàng đang nơi đâu? Sống chết ra sao? Những lo lắng cho an nguy của người chồng ngày càng được bộc lộ rõ trong hai câu thơ, nàng lo không biết chồng mình đang nơi đâu? Có bình an hay không. Xen vào cảm xúc buồn rầu thì còn có những nỗi hối tiếc và ân hận. Nàng luyến tiếc là đã để chồng mình đi tòng quân, cố lập chiến công để rồi làm quan, kiếm tước hầu vua ban cho. Bản thân và gia đình gia tộc sẽ được ve vang mở mày, mở mặt.. Nhưng suy ngẫm kĩ thì tất cả những thứ đó chỉ là ảo tưởng mà thôi vì nay chồng đi tòng quân không biết sống chết như thế nào. Chiến tranh khốc liệt tan thương đã cướp đi những hạnh phúc bình dị mà vốn dĩ những cặp vợ chồng nên có, chiến tranh chia lìa, cướp đi tình yêu và hạnh phúc.

Chỉ với bốn câu thơ đường luật nhưng cũng đủ để người đọc hiểu được cảnh tượng của thời chiến tranh loạn lạc đã cướp đi hạnh phúc, tình yêu của gia đình, vợ chồng.

Với 28 chữ của một bài tuyệt cú, Vương Xương Linh đã thể hiện tiếng nói phản ánh chiến tranh phi nghĩa của nhân dân thời Đường, đó cũng là của nhân loại từ xưa đến nay. Bài thơ đã thể hiện quá trình tâm lý, bộ lộ được cả phần tiềm thức của con người, làm nó đầy sức thuyết phục, nó đã trở thành một phần phẩm, đại biểu cho tiếng nói phản đối chiến tranh.

Loading...
Content Protection by DMCA.com

Check Also

mieu-ta-cu-gia-cau-ca

Tả cụ già đang câu cá – văn lớp 6

Loading... Đề bài: Tả cụ già đang câu cá (Văn lớp 6). Bài làm Vào …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *