Home / Văn THPT / Văn lớp 11 / Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận

Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận

Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận

Bài làm

Không chỉ là một trong những bài thơ hay của Huy Cận mà “Tràng giang” còn là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1930-1945). Mới đọc, không ít người nhầm tưởng “Tràng giang” là một bài thơ miêu tả cảnh thiên nhiên, thể hiện tình yêu quê hương đất nước nhưng kì thực bấy nhiêu chưa đủ với “Tràng giang”. Bài thơ là lời bộc bạch của một tâm hồn cô đơn, bơ vơ ngay giữa quê hương mình. Hay nói đúng hơn thì đó là nỗi buồn của cả một thế hệ chứ không riêng gì một hồn thơ.

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận được “thai nghén” và “sinh nở” từ những buổi chiều tác giả đứng trên bến Chèm của con sông Hồng đỏ nặng phù sa. Ban đầu bài thơ có tên “Chiều trên bến sông” nhưng sau này Huy Cận đặt lại thành “Tràng giang”.  Hai chữ “Tràng giang” đã gợi lên hình ảnh một con sông dài, mênh mông và bát ngát. Dường như dòng sông ấy đã chảy từ xa xưa của lịch sử, đã đi qua bao nền văn học, đã chứng kiến biết bao nhiêu thế hệ người sinh ra và mất đi. Không những thế, điệp vần “ang” không chỉ gợi tả sự dài rộng của con sông mà còn khiến nó trở nên mênh mang hơn, âm hưởng hơn trong tâm trí người đọc.

Mở đầu bài thơ là một cảnh sông nước mênh mông bất tận:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả    

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Ngay câu đầu của bài thơ đã cho thấy hình một con sông mang nỗi buồn mênh mang, lan tỏa: “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”. Trên dòng sông buồn muôn con sóng ấy là một con thuyền nhỏ buông mái chèo xuôi theo dòng nước. Ở đây, hình ảnh thuyền và nước chỉ “song song” với nhau chứ không gắn bó với nhau đã gợi lên sự lạc lõng, lênh đênh của con thuyền trôi nổi giữa dòng nước trăm ngả, thuyền biết theo ngả nào. Trong khi đó, câu thơ cuối lại phắc họa rõ nét hơn sự nhỏ nhoi, lạc lõng, vô định ấy bằng hình ảnh: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Dường như cái nhìn của nhà thơ giữa “trời rộng, sông dài” chỉ tập trung vào các vật nhỏ như sóng, thuyền, củi khô đã khiến sự đối lập được đẩy cao, làm rõ không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững.

phan-tich-bai-tho-trang-giang-cua-huy-can
Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận – Văn lớp 11

Đến khổ thơ thứ hai dường như nỗi buồn hiu quạnh như được tăng lên gấp bội và thấm sâu vào cảnh vật:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Toàn bộ khổ thơ khiến cho người đọc cảm tưởng một nỗi buồn cuốn xiết, tê tái lấy tất cả. Một cái cồn nhỏ lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu nên càng thêm buồn bã hơn, não nề hơn. Ngay cả những tiếng huyên náo của buổi chợ chiều mà cũng nghe không rõ. Khong biết chắc là tiếng đó phát ra từ đâu và không thể xác định được là có đúng âm thanh ấy hay không. Trong khi đó thì trời và sông lại thật sự mênh mông và vô định. Không phải trời “cao” mà là trời “sâu”. Lấy chiều sâu để gợi cái hun hút, không thấy cao sâu như thế nào của trời đất. Hình ảnh sông nước mênh mông và một chữ “cô liêu” ở cuối đoạn dường như đã lột tả hết  nỗi buồn sâu thẳm đã thấm vào không gian ba chiều. Con người ở đó trở nên bé nhỏ, có phần rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn và không khỏi cảm thấy lạc loài giữa cái mênh mông cái xa vắng của thời gian, của đất trời.

Nỗi buồn quạnh quẽ tiếp tục  thấm nhuần sang khổ thứ ba. Một loạt những hình ảnh lại được hiện lên nhưng tất cả đều nhằm nói lên chỉ một tâm trạng:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ này, dường như có một sự chuyển biến, sự vận động của thiên nhiên, không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lươngtrước nữa qua hình ảnh “bèo dạt”. Thế nhưng “bào dạt về đâu” lại khiến cho người ta dễ thất vọng bởi cánh bèo trôi dạt vô định, không biết nơi  nào để bấu víu mà cứ lặng lẽ dạt “về đâu” mặc cho số kiếp. Toàn cảnh sông dài, trời rộng  tưởng như rất hùng tráng nhưng tuyệt nhiên không có lấy một bóng con người; không một chuyến đò, đồng thời cây cầu – biểu tượng gắn kết, tạo sự gần gũi giữa con người với con người – cũng không có mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) nối tiếp với thiên nhiên (bãi vàng) đầy xa vắng, hoang sơ.

Và có lẽ ở khổ thơ cuối, bút pháp nghệ thuật của tác giả được đẩy lên cao nhất với nét vẽ chấm phá rất đắc điệu:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Có thể nói tư tưởng cả bài thơ cũng như tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ thơ cuối này. Hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” mang dáng dấp của thơ Đường đã tạo nên ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên. Trước cảnh sông nước, mây trời bao la ấy, bỗng thấy xuất hiện một cánh chim nhỏ bé, chao nghiêng. Hình ảnh cánh chim đơn lẻ trong một buổi chiều tà cũng để gợi lên một nỗi buồn xa vắng. Thậm chí có nhận định cho rằng, người đọc cảm tưởng như cả thiên nhiên đất trời rộng lớn đang đè nặng lên đôi cánh nhỏ bé ấy, cho nên cánh chim mới sa xuống như vậy. Thiên nhiên rộng lớn và hùng vĩ bao nhiêu thì cánh chim lại nhỏ bé, đơn độc và mệt mỏi bấy nhiêu. Nếu quan sát trong chính thời điểm ấy của cuộc đời nhà thơ thì phải chăng cánh chim ấy chính là một tâm hồn yêu nước tha thiết nhưng nhỏ nhoi, yếu ớt trước sự xâm lăng, đàn áp của giặc ngoại quốc? Buồn mà bất lực.

Rất có thể vì thế mà hai câu sau nhà thơ đã nhắc đến quê nhà:

Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Giữa thiên cảnh bao la hùng vĩ nhưng thấm đẫm nỗi buồn man mác đã khiến cho tác giả nhớ đến quê hương, nhớ đến những con người thân quen một thời của mình. Nhà thơ buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang hiu hắt khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp. Một mình đối diện với khung cảnh vô tình, quạnh vắng thì có lẽ nơi quê nhà chính là niềm an ủi lớn nhất đối với một tâm hồn đang hết sức cô đơn, lạc lõng.

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận không chỉ vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u buồn, hiu quạnh mà qua đó còn khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của nhà thơ. Nỗi buồn ấy chính là xuất phát từ thực tại lúc bấy giờ: xã hội cộng đồng truyền thống với những mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào đó là một xã hội đô thị với những cái tôi rời rạc, bơ vơ.

Loading...
Content Protection by DMCA.com

Check Also

Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà nu”

Loading... Đề bài: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *