Home / Văn THCS / Văn lớp 8 / Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương – văn lớp 8

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương – văn lớp 8

Loading...

Đề bài: Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.

Bài làm

Nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhắc đến vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam ta, từ già tới trẻ, từ lớn tới bé không ai mà không biết đến Người. Suốt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, Bác đã hi sinh tất cả để lo cho dân tộc, lo cho đồng bào của mình. Với Bác niềm vui của Người là được nhìn thấy đồng bào mình được tự do, hạnh phúc. Ngày Bác qua đời, cuộc khánh chiến chống Mỹ vẫn chưa kết thúc, đất nước chưa được thống nhất. Mãi đến năm 1976 khi đất nước quy về một mối và lúc đó lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, hay nói đúng hơn là ra thăm Bác. Bài thơ được sáng tác đúng vào dịp đó luôn.

Khổ thơ đầu là dòng cảm xúc, dòng tâm trạng khi lần đầu tiên được ra thăm lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Viễn Phương như đang thủ thỉ, kể chuyện tâm tình với vị Cha già đáng kính, khi mà đã lâu lắm rồi người con này mới được về thăm Người. “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Câu thơ vừa mang ý nghĩa thông báo, cũng như một lời khẳng định, người con này đã ở một nơi rất xa, phải vượt qua bao khó khăn, bao gian khổ để đến bây giờ khi đất nước thống nhất, quy về một mối mới có dịp để trở về cội nguồn, về nơi trái tim của ông cũng như của toàn dân tộc ta đang hướng đến chung một nhịp đập. Và nhà thơ cũng khẳng định, mình ở miền Nam xa xôi, nhưng ra Bắc lần này chỉ để đến thăm Bác chứ không phải để đi ngắm cảnh hay đi chơi. Điểm làm cho chúng ta chú ý nhất khi vừa đọc câu thơ đầu tiên lên đó là từ “con”, nghe thật thân thiết, gần gũi xen lẫn biết bao niềm xúc độc, sự nghẹn ngào của cảm xúc. Đây là từ chỉ dành cho những người có quan hệ máu mủ ruột thịt mới xưng hô như vậy. Viễn Phương tự nhận mình là một người con của Bác, một người con xa quê, xa nhà, xa Cha lâu rồi mới có dịp để về đoàn tụ cùng Cha mình. Và nhà thơ dùng từ “thăm” thay cho từ “viếng”, bởi “viếng” có nghĩa là ta đang đến để chia buồn cùng thân nhân có người chết, nhưng “thăm” lại ngược lại, thăm là sự gặp gỡ, chia sẽ, trò chuyện với những người đang còn sống. Để làm giảm đi nỗi tang thương, sự đau buồn, nhà thơ đã chọn cách nói giảm, nói tránh, hay cũng có thể không chỉ ông mà những người con của dân tộc Việt Nam đều tin rằng người vẫn còn sống, vẫn luôn luôn trong tim của họ, dù thời gian có trồi đi, dù không gian có thay đổi, thì Người vẫn còn sống mãi. Ba câu thơ còn lại được nhà thơ dùng để nhắc đến hàng tre xanh muôn thuở của dân tộc ta. Đập vào mắt tác giả lúc này là “hàng tre bát ngát”, dường như đâu đâu cũng chỉ thấy mỗi tre mà thôi. Sự kinh ngạc xen lẫn niềm vui, sự hân hoan được thể hiện rõ nét qua từ “Ôi!”. Bởi tre là một loài cây quá đỗi thân thuộc và bình dị như chính con người Việt Nam hay gần hơn chính là con người của Bác. Nhắc đến Việt Nam sẽ không thẻ nào không nhắc đến hoa sen, không thể thiếu được nón lá, áo dài và càng không thể thiếu được lũy tre làng. Hình ảnh lũy tre được Viễn Phương sử dụng với hai mục đích chính, đó là lối tả thực, ở đây là cai quen thuộc, cái dân dã, thôn que rất đỗi bình yên thường ngày lại hiện ra ở lăng Bác. Ngoài ra ở đây còn có một ý nghĩa lớn lao hơn mang tính biểu tượng, biểu trưng cao hơn đó là tượng trưng cho chính con người Việt Nam. Dù cực khổ, khó khăn, gian nan “bão táp mưa sa” đến đâu đi nữa thì nhân dân ta vẫn kiên cường, dũng cảm, cùng nhau đoàn kết một lòng, không sợ khó, sợ khổ, không vì mất mát đau thương mà chùn bước, nản lòng, vẫn “đứng thẳng hàng”, vẫn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để dành được tự do, độc lập cho dân tộc ta. Chỉ từ một hình ảnh “hàng tre xanh xanh Việt Nam” thôi nhưng chứa đựng trong đó là tâm hồn, là tính cách, là tinh hoa của người Việt ta, luôn đoàn kết một lòng để vượt qua mọi chông gai phía trước và bước đến vinh quang. Hàng tre ấy còn làm cho chúng ta có cảm giác như nó là một đội quân bất tử, bất khả xâm phạm, quây quần về đây để ngày đêm cùng Bác chuyện trò, tâm sự và để canh cho Bác co những giấc ngủ bình yên nhất. Vỏn vẹn có bốn câu thơ ngắn thôi nhưng chất chứa trong đó là tấm lòng, là niềm thương, là trái tim không chỉ của nhà thơ mà còn của dân tộc ta dành cho Người – vị Cha già đáng kính.

Ở khổ thơ thứ hai là dòng cảm xúc, là tâm trạng của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác, khi được đứng rất gần với Bác rồi.

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân …

Hai câu thơ đầu tiên của khổ thơ này xuất hiện hai hình ảnh mặt trời, một mặt trời ngoài lăng và một mặt trời trong lăng. Tất cả chúng ta đều biết trên Trái Đất này chỉ có duy nhất một mặt trời thôi, vậy sao Viễn Phương lại nói là hai? Thực ra đây là một cách ví von ẩn dụ mà thôi, nhưng sự ví von, ẩn dụ này mang ý nghĩa hết sức thiêng liêng cao cả, và được tất thảy mọi người dân Việt Nam đồng ý. Mặt trời thứ nhất là mặt trời mà ngày ngày vẫn “đi qua trên lăng” là mặt trời thực, mặt trời của chung tất cả mọi người trên thế giới, là mặt trời mang lại ánh sáng, sự sống cho muôn loài, là một trong những hành tinh quan trọng nhất không thể thiếu được trong vũ trụ này. còn hình ảnh “mặt trời trong lăng” là ý chỉ Bác Hồ. Người như một mặt trời đỏ chói, luôn dẫn đầu, soi đường, tìm ra những chân lý cho dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị, kìm kẹp của các đế quốc thực dân phi nghĩa. Trong tim những người dân Việt Nam Bác vẫn mãi là một mặt trời, một mặt trời độc nhất, không thể thay thế, không thể phai mờ mà trường tồn vĩnh cửu với thời gian. Có thể nói đây là một cách so sánh hết sức độc đáo và đầy sáng tạo để thể hiện lòng biết ơn của không chỉ nhà thơ mà của cả dân tộc ta dành cho Bác – mặt trời của riêng đồng bào ta. Từ láy “ngày ngày” chỉ sự tiếp nối, tiếp nối mãi không ngưng nghỉ và không kết thúc, dù thời gian có trôi đi, dù không gian có thay đổi nhưng trái tim, tấm lòng của “dòng người đi trong thương nhớ” vẫn luôn về đây, vẫn luôn không nguôi nhớ về Bác. Những “tràng hoa” được kết lại từ trái tim, từ lòng biết ơn, sự thương yêu của mọi người để dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân” của Người.

phan-tich-bai-tho-vieng-lang-bac-vien-phuong
Phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương – văn lớp 8

Khổ thơ thứ ba là khi nhà thơ vào trong lăng viếng Bác. Bao cảm xúc, bao niềm vui, sự thương nhớ như vỡ òa trong giây phút nhà thơ được gặp Bác.

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim !

Dường như cả thời gian và không gian đã ngừng lại trong cái khoảng khắc thiêng liêng này. “Giấc ngủ bình yên” của Bác được “vầng trăng sáng dịu hiền” luôn song hành, bên cạnh để Bác có được giấc ngủ thiên thu an bình nhất. Vầng trăng biểu trưng cho sự thanh khiết, sáng trong, cho tấm lòng luôn hết mực, hết lòng vì dân vì nước của Người. Một lẫn nữa, cách ví von ẩn dụ độc đáo, lạ lẫm lại được lặp lại. “Trời xanh” theo nghĩa thực ở đây là bầu trời, là thiên nhiên, là không gian mà chúng ta đang sông, đang tồn tại vĩnh hằng theo thời gian. Nhưng với Viễn Phương và với dân tộc ta thì Bác là “trời xanh” mãi mãi song hành cùng non sông, cùng đất nước Việt Nam. Ở câu cuối cùng của khổ thơ có động từ “nhói” là điểm nhấn, điểm đáng chú ý nhất. “Nhói” là thể hiện cho nỗi đau đột ngột, khó chịu, dường như bị ai đó bóp cho nghẹn lại không thể nào thở được. Mặc dù biết Bác vẫn luôn “sống” mãi trong tim chúng ta nhưng nhà thơ vẫn cảm thấy khó chịu đến nhức nhối, đến nghẹt thở.

Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Với khổ thơ cuối cùng là tâm trạng luyến lưu, là sự tiếc nuối, là những mong muốn đến khôn nguôi của nhà thơ khi sắp phải rời xa Bác, rời xa vị Cha già của dân tộc. “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”, đây như là một lời chào tạm biệt, nhưng lại không nỡ, không muốn chia tay. Có lẽ chính vì sự không nỡ này mà Viễn Phương mới có mong ước đến tha thiết muốn được làm “con chim hít quanh lăng Bác”, “làm đóa hoa tỏa hương đâu đây” và “làm cây tre trung hiếu chốn này”. Ba điệp ngữ “muốn làm” xuất hiện liên tiếp thể hiện khát vọng, mong muốn đến cháy bỏng của nhà thơ. Một lẫn nữa hình ảnh cây tre lại xuất hiện, có lẽ ông cũng muốn được ngày ngày đứng gác để canh từng giấc ngủ bình yên cho Người.

Đọc xong bài thơ, đọng lại trong ta là một nét cảm xúc trầm lắng đến da diết, thể hiện sự thương nhớ, niềm hạnh phúc và khát khao của nhà thơ. Những hình ảnh ẩn dụ đầy tính sáng tạo và mới mẻ, những phép lặp kèm theo nhịp điệu chậm rãi càng làm tăng lên nét nhấn nhá sự cô đúc trong hình ảnh, trong xúc cảm của không chỉ nhà thơ, mà của tất thảy người đọc.

Loading...
Content Protection by DMCA.com

Check Also

mieu-ta-cu-gia-cau-ca

Tả cụ già đang câu cá – văn lớp 6

Loading... Đề bài: Tả cụ già đang câu cá (Văn lớp 6). Bài làm Vào …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *